Bệnh tiêu chảy cấp – Coi chừng căn bệnh nguy hiểm

04:02 0 Comments

Nhiều người dân "phớt lờ" trước những cảnh báo về bệnh tiêu chảy cấp bởi vì họ không nhận thức được mức độ nguy hiểm của nó. Họ đồng cân nghĩ cô đơn giản, thuốc giảm cân tiêu chảy thì uống vài viên thuốc, nặng hơn truyền vài chai nước là khỏi mà không lường được những hậu quả nặng nề.

Suy kiệt, tử vong nhanh chóng

Tả là 1 trong 3 bệnh tối nguy hiểm, thuộc diện kiểm dịch quốc tế (tả, dịch hạch và sốt vàng), do một loại vi khuẩn hình dấu phấy gây ra, lây truyền bằng đường tiêu hoá, biểu hiện lâm sàng là ỉa lỏng nhiều và nôn nhiều lần.

Tình trạng đi ngoài, nôn liên tiếp khiến người bệnh chóng vánh mất nước, điện giải, truỵ tim mạch, suy kiệt và tử vong nhanh nếu không được điều trị kịp thời.

Trên thực tế, trong 3 đợt dịch gần đây, tuy số mệnh bệnh nhân dịp đến viện trong tình trạng bị tụt huyết áp, thuộc hạ co dúm, chẳng thể tự đi lại được rất nhiều nhưng chưa có tử vong. Thậm chí, có bệnh nhân nặng, bị suy thận, phải chạy thận. Tình trạng mất nước, suy kiệt, tụt huyết áp này sẽ dẫn tới tử vong nhanh nếu không được điều động trị kịp thời.

Phẩy khuẩn tả có thể tấn công mọi trang lứa tuổi. Song ở nơi chưa có dịch, người lớn mắc nhiều hơn, ở vùng có dịch lưu hành, trẻ mỏ và người già mắc nhiều hơn bởi chưng sức để kháng kém.

Biểu hiện lâm sàng của bệnh như sau:

  • Khởi bệnh đột ngột, tuyệt vời tiện trước, nôn sau: Đại tiệna lúc đầu có phân, sau lỏng, toàn nước, màu trắng đục như nước vo gạo hoặc nước canh đậu có những hạt trắng lổn nhổn, mùi tanh.
  • Nôn sau ỉa lỏng, lúc đầu là nước và thức ăn, sau giống như nước phân. Đại tiện và nôn dễ dàng, mệnh lượng nhiều, nhanh chóng dẫn đến tình trạng mất nước và rối loạn điện giải.
  • thuốc giảm cân
  • Thường không đau bụng hoặc đau nhẹ, không mót rặn. Không sốt hoặc sốt nhẹ.
  • Sau vài giờ tuyệt vời tiện và nôn liên tục, nhanh chóng dẫn đến sốc do giảm vô số lượng máu lưu hành: mặt hốc hác, mắt trũng, má lõm, môi khô, da nhăn nheo, xanh tím, hạ nhiệt độ, tụt huyết áp, mạch nhanh, nhỏ, khó bắt, tiểu tiện ít rồi vô niệu…
  • Nếu không được điều động trị bệnh nhân sẽ tắt thở do sốc không hồi phục, bởi chưng suy thận, nhiễm toan huyễn hoặc ngừng tim.
  • Tuy nhiên, nhiều trường hợp là danh thiếp thể nhẹ (ỉa chảy vài lần, không mất nước) mê hoặc không triệu chứng.

Người lành mang vi khuẩn – nguồn lây nguy hiểm

Có trạng thái gọi vi khuẩn tả là một thạch sùng nguy chứa đựng lâu dài. Vì nó có thể sống trong nước máy từ 4 – 40 ngày (nồng độ chất diệt khuẩn không đạt chuẩn), trong nước giếng thơi từ 3 -đến 30 ngày, trong nước sông từ 17 – 19 ngày, trong nước hồ ao từ 3 – 30 ngày, trong nước biển từ 4 – 47 ngày, trong bánh mì, nem chua, chả giò chạo, rau sống, mắm tôm, mắm tép từ vài ngày đến đầu hàng tuần, trong ruồi từ 2 đến 3 tuần. Như thế, nếu không trừ diệt triệt để nguồn lây truyền này, số mệnh người mắc vi khuẩn tả không phải là ít.

Nguồn lây bệnh ỉa chảy cấp hiểm nguy có trạng thái là bệnh nhân đang bị bệnh và người lành mang vi khuẩn. Người lành mang vi khuẩn là những người mang vi khuẩn mà không triệu chứng hoặc trạng thái nhẹ. Ðây là nguồn lây bệnh nguy hiểm vì chưng người ta không biết để điều trị, cứ ngấm ngầm trong cộng đồng rồi đến lúc nào đó bùng phát lên thành dịch.

Trong khi chúng ta không kiểm soát được người lành mang vi khuẩn, gia tộc vẫn đâm hoạt, giao du, đi tới nhiều vùng miền. Nếu phân của họ chứa vi khuẩn lây ra môi trường học thì sẽ khiến nhiều người có nguy cơ nhiễm rồi lại tiếp kiến tục lây lan.

Phương thức lây nhiễm bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm là lây lan qua đường ăn, uống vì chưng danh thiếp thức ăn huyễn hoặc nước uống bị nhiễm trực tiếp hay gián tiếp kiến với phân hay chất nôn của người nhiễm vi khuẩn.

Người ta đã thấy nhiều vụ dịch xảy ra tản phát bởi vì ăn phải các hải sản sống huyễn hoặc nấu chưa chín. Các vụ dịch lớn xảy ra thường bởi ô nhiếm nguồn nước, ô nhiễm các thực phẩm có tính tiêu dùng rộng rãi trong dân chúng. Ngoài ra còn có trạng thái lây bệnh gián tiếp qua ruồi nhặng, chuột. Trong đường tiêu sinh và lông cánh, chân, vòi của ruồi có thể chứa tới hàng phục triệu mầm bệnh.

PGS.TS. Trần Ðáng

0 nhận xét: